|
Lời
tác giả:
Trong Tạp chí Xưa và Nay, số
369, tháng 12-2010, tr. 13-16, có đăng bài “Câu
chuyện về Ông Ích Khiêm” của nhà nghiên cứu Lưu Anh
Rô. Qua bài viết, tác giả đã biểu lộ những ngộ nhận
đáng tiếc về gần 5 trang sách của tôi (TXA.), đề cập
đến bản án về danh tướng Ông Ích Khiêm, cái chết của
ông và giai thoại “Tất cả đều là chó”. Thứ nhất, ông
Lưu Anh Rô cho rằng cái chết của của Ông Ích Khiêm
trong ngục Bình Thuận là “rất mờ ám”. Thứ hai, bản
án đã được ghi rõ trong “Đại Nam thực lục”, kỉ Kiến
Phúc (tập 36, bản dịch, 1976), theo ông Lưu Anh Rô,
là còn phải bàn. Thứ ba, trong bữa tiệc dùng món
thịt chó (tôi gọi là món “ngu trung”), thuộc giai
thoại “Tất cả đều là chó” (hay “Vạ miệng”), ông Lưu
Anh Rô cũng cho rằng tôi đã thêm thắt chi tiết Ông
Ích Khiêm có mời cả hai đại thần Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết. Thứ tư, cho đến nay, ông Lưu Anh Rô
vẫn còn gọi hai đại thần chủ chiến ấy bằng một danh
từ ngụ ý phê phán, mà các nhà nghiên cứu theo quan
điểm bảo hoàng, thân Pháp, thân phái “Thiên-Chúa-giáo--tả-đạo”
và mị dân chủ trước đây thường gọi, là “quyền thần”.
Thứ sáu, để biện minh cho Ông Ích Khiêm, ông Lưu Anh
Rô lại kết án Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết
sai lầm khi chủ trương “sát tả đạo”. Thiết tưởng,
chỉ cần đọc lại trích đoạn từ cuốn sách “Phụ chính
đại thần Nguyễn Văn Tường (1824-1886)” (Trần Xuân
An, truyện - sử kí - khảo cứu tư liệu lịch sử, Nxb.
Văn Nghệ TP.HCM., trọn bộ bốn tập, 2004, tr.
787-791), cũng có thể thấy rõ những ngộ nhận đáng
tiếc ấy. Tự thân nguyên văn đoạn trích ấy (trong
sách in giấy đã xuất bản) được trích ra dưới đây đã
chứa đựng những chi tiết cần thiết để làm sáng tỏ
năm điểm ngộ nhận trên của nhà nghiên cứu Lưu Anh Rô.
Riêng điểm thứ sáu, bản thân tôi cũng đã bàn trong
cuốn sách đang được trích dẫn và trong nhiều bài
khảo luận của tôi ở những đầu sách khác. Nếu có thể,
cũng xin vui lòng tham khảo trực tiếp hai cuốn sách
của GS. Nguyễn Văn Kiệm (“Sự du nhập của đạo Thiên
Chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỉ
XIX”, Viện Nghiên cứu tôn giáo, Hội KHLS. VN., TT.
UNESCO BT. & PT. VHDT. VN, 2001; “Góp phần tìm hiểu
một số vấn đề lịch sử cận đại Việt Nam”, Nxb. VH.-TT.,
2003) và luận án tiến sĩ tại Pháp về chuyên đề “Giáo
sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại
Việt Nam (1857-1914)” của GS. Cao Huy Thuần (Nguyên
Thuận dịch, Nxb. Tôn Giáo, 2003), và nhiều sách khác
cùng loại, như của linh mục viện sĩ Trần Tam Tĩnh (Nxb.
Trẻ), Yoshiharu Tsuboi (Thành ủy TP.HCM. xuất bản)…
Cố nhiên, nhận định của tôi về nhân vật lịch sử
Nguyễn Văn Tường (1824-1886) vẫn y nguyên như trong
các đầu sách, bài viết của tôi về ông, và ngày càng
khẳng định thêm nhận định ấy.
Ngoài ra, ông Lưu Anh Rô còn cho rằng tính
cách riêng (cá tính) Ông Ích Khiêm là “rặt Quảng
Nam”, “Quảng Nam chay”. Tôi nghĩ điều đó là oan cho
nhân dân, trong đó có tầng lớp nhà nho, và quan viên
Quảng Nam mà tôi ít nhiều thấu hiểu vì đã từng sống,
học hành ở Quảng Nam, đã đọc nhiều sách sử về nhân
vật Quảng Nam, và không nguôi niềm yêu mến. Nói cho
đúng, xét riêng về mặt tính cách, thì cá tính Ông
Ích Khiêm là rất cá biệt.
--- TXA. ---
… Tháng bảy
với những công việc trong triều ngoài tỉnh như thế,
trong tình hình như thế, lại được tin Ông Ích Khiêm
đã chết trong ngục tại Bình Thuận (140)!
Không phải nhầm
lẫn, chính là Ông Ích Khiêm, thần đồng văn chương,
danh tướng trận mạc và cũng là một quái kiệt “tâm
hoả”. Ông đã trở thành phạm viên (người vi phạm luật
pháp), bị xử án lưu đày vào Bình Thuận để sung quân
(140). Mức lưu đày nhưng được sung quân là tương đối
tự do, thoải mái, như một viên lính mới nhập ngũ, và
đến khi mãn hạn chấp hành án sẽ được khai phục (như
Nguyễn Công Trứ trước kia chẳng hạn, với câu nói nổi
tiếng: “Khi làm quan ta không lấy làm vinh, khi làm
lính ta không lấy làm nhục”). Nhưng vì Ông Ích Khiêm
chống đối các quan thi hành pháp luật, nên bị giam
vào ngục. Tại ngục Bình Thuận, ông đã chết!
Việc các quan chức
vi phạm luật pháp, bị án, không có gì đáng ngạc
nhiên. Ông Ích Khiêm cũng đã nhiều lần bị trói, khoá
tay, giải về kinh nghị xử, nhưng đều được miễn nghị.
Lần này, Ông Ích Khiêm mới thực sự bị án. Việc Ông
Ích Khiêm bị án chẳng có gì là lạ! Điều gây sửng sốt
cho các quan tại triều, là Ông Ích Khiêm đã chết như
thể là tự sát!
“PHẠM VIÊN LÀ ÔNG
ÍCH KHIÊM CHẾT Ở NHÀ NGỤC BÌNH THUẬN” (140):
“Ông Ích Khiêm, [vào
tháng năm nguyệt lịch] mùa hạ năm ấy, vâng mệnh phải
đi khám Sơn phòng Quảng Nam, bị bọn chưởng ấn là Đào
Hữu Ích, Nguyễn Doãn Tựu đem việc chỉ hặc (tự tiện
bắt lính kinh hơn năm mươi (50) tên hộ tống, và lấy
công nữ, đuổi dân cư, xây nhà riêng), giao cho đình
nghị. Sau thành án: cách bỏ chức tước (nguyên Binh
bộ thị lang, phong tước nam), phát đi Bình Thuận
sung quân (theo về khoản tự tiện bắt người hỏi tội),
thu hết ấn quan phòng cấp cho cũ [:trước đó], khóa
tay giải đến chỗ đi đày. Khi đi đường đến Quảng Ngãi,
bị bệnh, nghỉ.
([Ông Ích Khiêm]
nói: “Đi theo việc bắt giặc, trải một trăm năm mươi
(150) trận, mình bị trọng thương; nay đi đường bị
nóng, nhức đau, xin nghỉ lưu lại”).
Tỉnh thần là Trần
Nhượng y cho hạn xin ở lại. Bộ Hình cho rằng, vì
tình riêng, khinh thường pháp luật, [nên] tâu hặc,
phạt Nhượng bị giáng hai cấp, lưu lại làm việc; sai
[Ông Ích Khiêm] mỗi ngày phải đi hai trạm, hạn cho
đi tới các tỉnh (Bình Định, Phú An [:Yên], Khánh Hòa),
không được hạn lưu lại một khắc. Kịp khi tới chỗ đày,
phủ thần là Lê Liêm an trí xuống ngục. [Ông] Ích
Khiêm tháng ấy chết ở trong ngục.
[Ông Ích Khiêm
được] gia ơn miễn tội sung quân, khai phục Hàn lâm
viện thị độc, chiếu hàm cấp tiền tử tuất” (140).
Người ta còn kể
một giai thoại về Ông Ích Khiêm, không biết có xác
thực hay không. Giai thoại thường do người sáng tác,
truyền khẩu thêm thắt, thậm chí hư cấu, nên dẫn đến
tình trạng có nhiều dị bản. Có truyện thuộc loại này
xem ra cũng phần nào phù hợp với tính cách riêng của
nhân vật lịch sử.
Giai thoại ấy được
kể rằng (141): Có một lần, Ông Ích Khiêm mời một số
đường quan đến nhà riêng dự tiệc. Trong bữa tiệc ấy,
những món ăn đều có vị lạ nhưng rất ngon miệng. Các
quan đa số đều là nhà nho, chỉ một ít có thiện cảm
với Phật giáo, Lão giáo hoặc số ít ấy vừa là nhà nho,
vừa sùng tín một trong hai tôn giáo kia. Với các món
ăn Ông Ích Khiêm thiết đãi, nhiều quan biết ngay và
tất nhiên rất thích. Họ gọi đó là món “ngu trung”.
Ngu trung là trung thành một cách mù quáng, không
phân biệt kẻ được mình trung thành là ác hay thiện.
Nhà nho vốn duy lí, vốn xem câu nói của Mạnh Tử là
kinh điển: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi
khinh” (dân là quý, Đất nước thứ nhì, vua chúa chỉ
đáng xem nhẹ). Kẻ sĩ nho giáo luôn luôn xem “dân vi
bản”, lấy dân làm gốc. Nhưng món “ngu trung” ấy, một
vài quan không từng được nếm, và tất nhiên các món
ăn trên bàn đều được trình bày khác với món “ngu
trung” bình thường, cho nên không nhìn ra. Nếu trình
bày theo cách bình thường, dẫu chưa từng nếm nhưng
cũng có thể biết đó là món gì. Do đó, các vị quan
vốn kiêng ăn món “ngu trung” thành thật không biết
món ăn có vị lạ và cách trình bày cũng lạ mắt đó.
Một người hỏi:
- Các món ăn nấu
bằng thịt gì ngon đáo để! Quan gia chủ có thể cho
tôi biết được không?
Ông Ích Khiêm đáp
tỉnh bơ:
- Đều là chó cả!
Đâu cũng chó cả!
Các quan hơi tái
mặt hoặc hơi đỏ mặt, tuỳ theo phản ứng bẩm sinh của
từng người. Nhưng tại sao Ông Ích Khiêm lại vô ý đến
thế! Vả lại chừng như qua ngữ điệu, ông ta muốn nói
xỏ xiên gì đây. Sỉ nhục nhau chăng? Cá tính Ông Ích
Khiêm vốn thế, cho nên, chấp trách làm gì! Thôi, bỏ
qua. Đến vua Tự Đức cũng bỏ qua cho Ông Ích Khiêm cơ
mà! Hẳn mọi người đều nghĩ thế, cho dẫu họ hiểu Ông
Ích Khiêm chửi họ “ngu trung” như chó! Được trung
thành với ông chủ có đạo đức, có tri thức, được mọi
người kính trọng, ngưỡng mộ mà không cần tô son vẽ
phấn, đó là con chó may mắn. Cái may mắn ấy con chó
không tự chọn lựa, vì nó vô tri, chỉ có mỗi một bản
năng trung thành. Con chó trung thành với bất kì ông
chủ nào đã nuôi nó từ nhỏ, kể cả loại ông chủ là kẻ
cướp của giết người, đầu trộm đuôi cướp. Loại thứ
hai này đúng là không may mắn tí nào! Kẻ sĩ, những
trí thức luôn luôn tự nhắc nhở “dĩ dân vi bản”, phải
tâm niệm chữ trung (trung quân một cách sáng suốt),
lẽ nào không biết chọn vua để phụng sự? Ông thừa
hiểu, hiểu một cách sâu sắc, hai phụ chính đại thần
Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và các quan chủ
chiến không ngu trung một chút nào, mà trung thành
với triều Nguyễn, với Đất nước, với nhân dân bằng
tất cả sự sáng suốt đã được minh chứng bằng hành
động! Ông Ích Khiêm cũng tự chửi mình đấy sao?
Dẫu bữa tiệc mất
ngon vì sự vô ý, vô tứ của Ông Ích Khiêm, nhưng các
quan vẫn cố vui vẻ với nhau và với Ông Ích Khiêm.
Bỗng có một vài
viên quan khác đến trễ, được gia nhân mời vào. Tất
nhiên người đến trễ lại là quan không phải nhỏ, cũng
biện lí, chủ sự, tham biện tại kinh đô. Ông Ích
Khiêm đã dành sẵn một mâm ở bàn riêng. Bàn liền được
gia nhân bưng vào, đặt ở vị trí cao nhất, có thể gọi
là bàn thượng. Các quan vừa mới được đón vào thấy
thế, đâm ngại. Một người nói, sau khi đảo mắt nhìn
quanh:
- Chúng tôi có lỗi
thất lễ đã đi trễ giờ, vả lại… Thật không dám vô
phép ngồi ở bàn trên đó!
Ông Ích Khiêm liền
nói như chửi:
- Tất cả đều là
chó! Ngồi trên bàn thượng cũng chó, ngồi dưới bàn hạ
cũng chó!
Lần này, Ông Ích
Khiêm cố ý nói sai hai chữ “trên”, “dưới”. Các lần
trước thì thôi, bỏ qua, hơi đâu chấp trách Ông Ích
Khiêm, nhưng lần này rõ là Ông Ích Khiêm phạm thượng,
khi quân (khinh vua)! Tội khi quân là tội chết, với
mức án lăng trì xử tử!
Các quan dứt khoát
đứng dậy, kẻ trước người sau nói lời cáo từ. Ông Ích
Khiêm cản tay lại, không để các quan về. Ông nói:
- Tôi xin các quan
vui lòng ngồi lại để uống nước đã chứ!
Ông Ích Khiêm gọi
gia nhân:
- Nước đâu? Thật
là bọn vô tích sự! Ăn rồi chỉ lo mỗi việc nước cũng
không xong, cứ vục đầu mà ăn rồi chơi nhởi thôi!
Các quan không thể
nói Ông Ích Khiêm không có ý xỏ xiên, chơi khăm, sỉ
nhục đồng sự. Rõ ràng Ông Ích Khiêm mắng nhiếc các
quan đều là chó, vua cũng chó, tôi cũng chó, không
chăm lo việc nước, chỉ vục mặt lo ăn!
Tất nhiên với ngữ
cảnh đó, ngữ điệu đó, cộng với tính hệ thống, ai
cũng có thể kết án Ông Ích Khiêm, đều có thể bắt
trói ông giao cho Bộ Hình xử án đúng luật. Mọi tội
có thể châm chước, khoan tha, nhưng tội lần này,
nhất là tội phạm thượng, khi quân, làm sao khoan tha,
châm chước được!
Nhưng rồi mọi
người vẫn khoan tha, châm chước cho Ông Ích Khiêm.
Không ai dâng sớ đàn hặc con người rất tài năng, văn
võ kiêm toàn nhưng “tâm hoả” ấy (141).
Dẫu sao, đó cũng
là giai thoại, không rõ có xác thực hay không!
Không chỉ giai
thoại, người ta con truyền tụng nhau một vài bài thơ,
câu đối “động thời văn” của Ông Ích Khiêm. Đây là
bài thơ phê phán các quan thời vua Tự Đức còn sống,
vì bấy giờ quan ta phải phối hợp với quân Thanh do
tướng Phùng Tử Tài thống lãnh để tiễu phỉ, và sử
dụng cả quân Cờ đen đã quy thuận, đánh Pháp:
“Áo chúa cơm vua hưởng
bấy lâu
Đến khi có giặc phải thuê Tàu
Từng phen võng giá mau chân nhảy
Đến bước chông gai thấy mặt đâu?
Tiền bạc quyên hoài dân xác mướp
Trâu dê hiến mãi đứa văng bầu (*)
Ai ơi hãy chống trời Nam lại
Kẻo nữa dân ta phải cạo đầu!” (141).
Ông Ích Khiêm lo
âu dân tộc ta phải bị đồng hoá thành người Thanh cạo
nửa đầu trước, đánh tóc nửa đầu sau thành hình con
rết!
Trong nhiều giai
đoạn lịch sử, có khi người ta cần có một nhân vật
nào đó, thường là đã chết, để gán vào những điều
người ta không dám nói, dám viết, hoặc chỉ để hả
lòng ghét, khoái miệng chửi, thoả mãn thói đời thích
công kích, châm biếm, trào lộng, có khi nhắm đến
chính nhân vật ấy… Ai đi bắt tội người đã chết! Mặt
khác, đó chỉ là truyền khẩu, mà “khẩu thiệt vô bằng”
(miệng lưỡi không có bằng cứ), đâu phải giấy trắng
mực đen, ai bắt tội được người truyền khẩu!
Chuyện văn chương
truyền miệng, khẩu thiệt vô bằng với nội dung như
thế, dẫu sao, cũng độ lượng cho Ông Ích Khiêm. Tình
cảm thơ ca, ngôn từ thi sĩ nhiều khi rất cảm tính!
(**) Nhưng còn những tội khác như các quan Khoa đạo
Đào Hữu Ích, Nguyễn Doãn Tựu đã tâu hặc thì đâu phải
là chuyện văn chương khẩu thiệt! “Luật pháp bất vị
thân” (luật pháp không thiên vị người thân), kể cả
đồng chí chủ chiến! Hai quan phụ chính Nguyễn Văn
Tường, Tôn Thất Thuyết làm sao bênh vực cho Ông Ích
Khiêm được!
Sự thật về án phạm,
về cái chết ở ngục Bình Thuận của Ông Ích Khiêm là
đúng như bản án Bộ Hình đã nghị xử, đã tuyên bố, cho
thi hành án, và do chính bản thân Ông Ích Khiêm. …
Trần Xuân An
_________________________
Chú thích trong nguyên
bản:
(*) Bầu: dụng cụ đeo ở
thắt lưng. “Bầu” tiểu đối với “mướp”.
(140) Quốc sử quán triều
Nguyễn, ĐNTL.CB. (Đại Nam thực lục, chính biên), tập
36, sđd. (bản dịch Viện Sử học, Nxb. KHXH.), 1976,
tr. 163 – 164.
(141) Nguyễn Đắc Xuân,
“Hương giang cố sự” (HGCS.), giai thoại “Vạ miệng”,
Tủ sách Sông Hương xb., 1886, tr. 31 – 33.
Chú thích mới (17-12
HB10):
(**) Vì thế, các nhà văn
chương, trong đó có nhà thơ, chắc hẳn nên quan tâm
nhiều hơn đến tính khoa học, cụ thể là sử học, trong
sáng tác văn chương.
|