|

Tác phẩm
Vọng ngày xanh
|
|
 |
"Một
chữ tình để duy trì thế giới,Một chữ tài để tô điểm càn khôn"LNĐ |
 |
|
|
| |
Sự thật về mối tình Hàn
Mạc Tử – Kim Cúc
Phaxiphăng
Lâu
nay, khá đông người cho rằng thi sĩ Hàn Mạc Tử và nhà giáo
kiêm cư sĩ Hoàng Thị Kim Cúc từng có một tình yêu đôi lứa.
Lắm sách báo ghi nhận như vậy. Ngay cả lối sống khá đặc biệt
của Kim Cúc – suốt đời độc thân, làm thơ tặng Hàn, chẳng
chuyện trò điều này với người trong nhà… – càng khiến dư
luận nghĩ vậy.

Nhà giáo, cư sĩ
Hoàng Thị Kim Cúc (1913-1989).
Với Kim Cúc, Hàn từng
gửii thư và hai áng thơ mà thiên hạ lưu truyền với nhan đề
Đây thôn Vỹ Dạ và Đừng cho lòng bay xa.
Nhưng bằng hệ thống
tư liệu phong phú và xác thực, tác giả Phanxipăng chứng minh
rằng Hàn yêu đơn phương Kim Cúc, đồng thời khẳng định nhan
đề chính xác hai áng thơ kia là Ở đây thôn Vỹ Dạ và Sao,
vàng sao.
Giai đoạn
1928-1930, Nguyễn Trọng Trí – sau trở thành nhà thơ Hàn Mạc
Tử(1) – về Huế nội trú tại trường Pellerin(2) để dùi mài đèn
sách hai niên khóa cuối bậc tiểu học (3). Sau khi đỗ kỳ thi
tiểu học yếu lược vào tháng 6/1930, Nguyễn Trọng Trí được
cấp bằng Certificat d’études primaires franco-idigènes/Pháp
Việt sơ học văn bằng ngày 26/12/1930.
Kế đó, Nguyễn Trọng Trí
vào phố biển Quy Nhơn, sống cùng gia đình. Năm 1932, chàng
xin làm tập sự tại Phòng Địa chính Quy Nhơn trực thuộc Sở
Địa chính tỉnh Bình Định – cơ quan được dân gian thuở bấy
giờ quen gọi là Sở Đạc điền. Nguyễn Trọng Trí được phân công
làm thư ký công nhật ở bộ phận bảo tồn điền trạch.
Soạn Đôi nét về Hàn
Mạc Tử(4), Quách Tấn ghi nhận: “Khi Tử làm Sở Đạc điền Quy
Nhơn, Tử có yêu một thiếu nữ ở cùng một con đường – đường
Khải Định(5) – biệt hiệu là Hoàng Cúc.”
Hàn Mạc Tử – Hoàng
Hoa: tình đơn phương
Nàng mang họ tên
đầy đủ là Hoàng Thị Kim Cúc, ái nữ của Tham tá Hoàng Phùng –
thuở nọ đảm trách chức vụ Giám đốc Sở Đạc điền Quy Nhơn. Với
nguồn tư liệu hiện thời, tôi chưa hề thấy Hoàng Thị Kim Cúc
mang biệt hiệu Hoàng Cúc bao giờ cả. Biệt hiệu của nàng là
Hoàng Hoa. Có lẽ bắt nguồn từ những câu thơ Hàn viết thuở
tương tư nàng. Như bài tứ tuyệt Hoa cúc:
Thu về nhuộm thắm
nét hoàng hoa,
Sương đẫm trăng lồng
bóng thướt tha.
Vẻ mặt khác chi người
quốc sắc,
Trong đời tri kỷ chỉ
riêng ta.
Hoặc rõ rệt hơn là
trong bài Sao, vàng sao – bấy nay lưu hành dưới nhan đề
không đúng bản gốc là Đừng cho lòng bay xa – mà Hàn từng gởi
“tiểu thư khuê các”:
Trời nhật nguyệt
cầu vồng bắc tứ phía,
Ôi Hoàng Hoa, hồn phách
đến nơi đây,
Hương ân tình cho kết
lại thành dây,
Mong manh như lời nhớ
thương hàng triệu
Sinh thời, Hoàng
Thị Kim Cúc thỉnh thoảng cũng sáng tác thơ và ký bút danh
Hoàng Hoa, hoặc Hoàng Hoa thôn nữ, hoặc H.H

THủ bút bà Kim Cúc trong thư
gửi Nguyễn Bá Tín ngày 16/10/1987
Hoàng Thị Kim Cúc chào đời ngày 5/12/1913 nhằm mùng 8/11
năm Quý Sửu. Hàn Mạc Tử chào đời ngày 22/9/1912 nhằm ngày
12/8 năm Nhâm Tý 1912. Khoảng cách tuổi tác như thế, theo
quan niệm dân gian quả rất xứng đôi vừa lứa: “Nhất gái hơn
hai, nhì trai hơn một”. Lứa thì vừa đấy, song chàng với nàng
chẳng hề “đôi lứa xứng đôi” – dẫu chỉ xứng đôi trên tình
trường như nhiều người bấy lâu ngộ nhận. Sự nhầm tưởng kia,
trớ trêu thay, lại xuất phát từ những hồi ký do thân bằng
quyến thuộc của Hàn viết và công bố sau khi Hàn mất!
Để bạn đọc tiện khám
phá sự thật vấn đề, tôi xin sao lục mấy lá thư của chính
người trong cuộc là Hoàng Thị Kim Cúc.
Thư đề ngày
13/3/1971 gởi Quách Tấn: “Hồi đó Tử thường đến chơi với
Hoàng Tùng Ngâm là em chú bác với tôi. Bạn Ngâm đông lắm.
Trong gia đình tôi, không ai để ý đến bạn của Ngâm. Câu
chuyện tâm tình của Tử, trừ Ngâm ra, cũng không ai biết. Tôi
được biết trước khi thầy tôi sắp về hưu, do một người bạn
khác nói lại, chứ không phải Ngâm.”
Thư đề ngày
15/4/1971 gởi Quách Tấn: “Hồi ấy tuy nhà Tử ở gần tôi, song
Tử và tôi cách xa nhau như hai ngọn núi, Tử thì kín đáo và
bẽn lẽn như con gái, còn tôi thì bí mật và xa lạ như cung
trăng! Tuy thế Tử cũng đã tìm cách để gặp, nhưng rồi vẫn
cũng chưa toại nguyện (…). Năm 1936, khi Tử ở Sài Gòn về Quy
Nhơn, tôi vẫn còn ở Quy Nhơn đến mấy tháng sau mới về Huế.”
Thư đề ngày
15/10/1971 gởi Quách Tấn: “Về tuồng cải lương(6) thì tôi
được biết do đoàn Dạ Lý Hương đóng vào đầu năm 1970 (hồi đó
tôi vào Sài Gòn được nghe nhiều người kể lại, trong đó có
bác sĩ Lê Khắc Quyến kể nữa) và lần lượt đã trình diễn trên
tivi khoảng mấy tháng sau tại các tỉnh miền Trung.
Họ đã diễn tả đúng đoạn
văn của ông trong tập Văn số 73 trang 93. Nghĩa là họ diễn
đoạn Tử nhờ người đến cầu hôn bị ông bà thân nhà gái từ chối,
hất hủi, vì lẽ Tử không xứng mặt đồng sàng! Cô Cúc không có
trong vở tuồng, không xuất hiện trên sân khấu, chỉ có ông bà
thân của cô và Tử thôi. Ông bà đã lột hết tài nghệ phơi bày
rõ rệt tâm địa của con người chỉ biết tiền, ham danh vọng,
khinh miệt người, hống hách… Như vậy, ông đã thấy rõ, vì
động chạm sai lạc đến thầy mẹ tôi và Tử nên tôi mới lên
tiếng, chứ không phải vì tôi!”.
Thủ bút Hoàng Thị
Kim Cúc trong thư đề ngày 16/10/1987 gởi Nguyễn Bá Tín.
Thư đề ngày 16/10/1987
gởi Nguyễn Bá Tín – em ruột Hàn: “Vào đầu năm 1936, sau khi
ông trợ Cát là cậu tôi ghé nhà chơi, lúc ra về bỏ quên thư
của Tử gởi cho cậu tôi mà nội dung chỉ nói về chuyện tâm
tình của Tử. Tử có tới gặp tôi 2 lần. Lần đầu chỉ nói bâng
quơ vài câu rồi chào về. Lần thứ hai, Tử mạnh dạn trong dáng
điệu rụt rè, lắp bắp mấy lời tỏ tình, rồi đưa tặng tôi tập
thơ Bâng khuâng với mảnh giấy nhỏ có mấy hàng chữ. Tôi bàng
hoàng rồi cũng rụt rè từ chối, không nhận sách, không nhận
thư (…).
Gần cuối năm 1936, khi
Tử về dự hội chợ Huế, mang theo một xấp Gái quê vừa in xong,
có gặp tôi cùng đi với anh em tôi trong hội chợ. Tử đưa tặng
anh em tôi mỗi người một tập, có đề chữ tặng, không tặng tôi
mà chỉ yên lặng nhìn! Mấy hôm sau, Ngâm cho biết: Tử có về
nhà tôi ở Vỹ Dạ mà lại đứng ngoài ngõ nhìn vô, rồi từ đó
chúng tôi không gặp nhau, lại không thư từ, thăm viếng, hứa
hẹn, mỗi người một ngả, cách xa nhau như hai ngọn núi (…).
Nếu không có bức thư ông trợ Cát để quên ở nhà tôi thì có lẽ
tôi vẫn dửng dưng vô sự. Và Ngâm cũng không nói gì với tôi
về mối tình của Tử.
Ngâm thấy không thể
giấu được nên mới kể đại khái rằng: ‘Trí nó cảm chị lâu rồi,
từ hôm chị bán gian hàng ở hội chợ của Tòa sứ Quy Nhơn tổ
chức (…). Trí đã nhờ Ngâm đưa thư cho chị, Ngâm không đưa.
Trí nhờ nói với chị về nỗi lòng, Ngâm từ chối. Trí làm thơ
tặng chị đăng trong báo Phụ nữ tân văn, Ngâm cắt mấy bài thơ
rồi mới đưa báo cho chị (…). Thật tội cho thằng Trí! Nó kể
cho em nghe nhiều nhiều, mà Ngâm đâu có nói gì với chị, vì
Ngâm không muốn làm bận rộn tâm trí chị, khi thấy chị chưa
nghĩ gì về chuyện yêu đương!’. Thật thế, lúc đó tôi đã 21
tuổi rồi(7) mà sao còn quá ngơ ngác!”
Thư đề ngày
11/5/1988 gởi Hoàng Toại – anh cả của Hoàng Thị Kim Cúc:
“Lâu nay em chưa có dịp kể cho anh nghe và em cũng không kể
cho ai hết, tuy thế đã có nhiều người biết chuyện, biết qua
sách báo sai lạc, biết qua sự phỏng đoán và tưởng tượng của
họ. Câu chuyện xảy ra trên nửa thế kỷ rồi anh nợ, em cũng im
lặng cho nó đi qua, vì câu chuyện thuộc về dĩ vãng. Không
ngờ mấy năm sau đây mấy nhà viết sách tìm tòi moi móc, moi
những chuyện không đúng sự thật như bài báo của Kiêm Đạt ở
bên đó(8) mà anh đã cắt gởi về cho em coi chẳng hạn (…). Hồi
em ở Quy Nhơn với ba, Hàn Mạc Tử có để ý đến em, nhờ Ngâm
hỏi ý kiến em, Ngâm không hỏi. Anh ấy kiếm cách gặp em kể lể
nỗi niềm, em thấy trước là câu chuyện không đi đến đâu nên
từ chối.
Câu chuyện chỉ có chừng
nấy, em yên trí là không liên quan gì với nhau nữa, không dè
thi sĩ cứ thầm yêu trộm nhớ, làm thơ rồi nhờ bạn bè tặng
sách báo cho em, em vẫn cứ im lặng, không trả lời trả vốn
(…). Sau khi Hàn Mạc Tử qua đời, Ngâm mới kể rành mạch nỗi
lòng của Hàn Mạc Tử đối với em. Em hết sức cảm kích và vô
cùng ngậm ngùi. Anh có nhớ hồi anh làm ở văn phòng nào đó,
ông Trần Tái Phùng cũng làm một chỗ với anh, một hôm anh đi
làm về, đưa cho em một tờ giấy nhỏ có ghi hai câu thơ của
Hàn Mạc Tử do ông Trần Tái Phùng đưa cho anh đem về hỏi em.
Hai câu thơ đó là:
Xiêm áo hôm nay tề
chỉnh quá
Muốn ôm hồn Cúc ở trong
sương.
Em xem xong chỉ
cười mà không trả lời (…). Hôm nay em mới kể câu chuyện tâm
tình đó với anh, kể ra cũng quá chậm, song chắc anh cũng
hiểu tâm trạng em mà hoan hỷ cho em (…). Kha Anh, Kha Em hay
Em Nhỏ thì có biết chuyện, song cũng biết lơ mơ vì em không
nói chi hết; mấy em ở trong nhà cũng chỉ biết qua sách báo
(…). Trong gia đình, anh là người đầu tiên mà em kể chuyện
tâm tình của em”.
Qua trích đoạn năm
lá thư của người trong cuộc, ắt bạn đọc đủ cơ sở để kết luận,
mối tình đầu Hàn Mạc Tử dành cho Hoàng Hoa chỉ là tình đơn
phương. Trao đổi với tôi về chuyện này, một bạn thân của Hàn
Mạc Tử là nhà văn Trần Thanh Địch(9) thuở sinh tiền nhận
định:
- Năm 1941, ngay
sau khi Hàn qua đời, anh Trần Thanh Mại soạn sách Hàn Mạc
Tử(10) đã có đoạn kết tiên đoán rất đúng: “Tôi vẫn biết
trước, trong một ngày không lâu, người ta sẽ dành nhau cái
vinh dự xây dựng cho thi sĩ Hàn Mạc Tử những chiếc thánh giá
vĩ đại, đến cả những lăng tẩm nguy nga nữa”. Tham dự một số
buổi lễ kỷ niệm Hàn Mạc Tử được tổ chức đó đây trong thời
gian qua, chắc anh Phanxipăng đã chứng kiến cảnh mấy phụ nữ
tranh nhau tự nhận là “nàng thơ”, là “tình nhân” của thi sĩ
quá cố. Thói đời mà! Thế nhưng, chị Cúc thì khác. Chị không
nhận những gì mình không có. Tôi cho đó là đức tính trung
thực đáng quý. Và nhiệm vụ của các cây bút ngày nay là hãy
cố gắng đem “cái gì của César trả lại cho César”.
Thiết tưởng cần soi
sáng thêm đôi điểm về nhân thân Hoàng Thị Kim Cúc cùng một
vài nhân vật liên quan từng được đề cập trong năm bức thư
trên. Biết đâu đôi điểm này lại có khả năng là một trong
những “chìa khóa” giúp chúng ta “giải mã” phần nào hành
trạng và tác phẩm của Hàn thi sĩ.
Nhiều người dân Huế
hiện tại vẫn còn nhớ Hoàng Thị Kim Cúc ít nhất ở hai cương
vị, nhà giáo và nữ cư sĩ.(11) Lật lại các tuyển tập Đồng
Khánh mái trường xưa do Ban Liên lạc cựu học sinh Đồng Khánh,
Huế, nay là Trường Trung học Phổ thông Hai Bà Trưng, thực
hiện từ năm 1992 trở đi, chúng ta bắt gặp những dòng hồi ức
của bao thế hệ học trò về “hình ảnh dịu dàng, vóc dáng nhỏ
nhắn, vui vẻ ân cần nhưng cũng rất nghiêm khắc của cô Hoàng
Thị Kim Cúc, cô giáo đầu đàn của bộ môn nữ công gia chánh
thời ấy”(12). Hoàng Thị Kim Cúc cũng là tác giả bộ sách Món
ăn nấu lối Huế(13) được nhiều người đọc và áp dụng.
Thời ấy, nếu Hoàng
Thị Kim Cúc đến Trường Đồng Khánh được các nữ sinh kính cẩn
thưa “cô”, thì lúc ra đường, Hoàng Thị Kim Cúc thường được
nhiều thanh thiếu niên gọi thân tình bằng “chị”. Đó là cách
xưng hô phổ biến của mọi đoàn sinh đối với các nữ huynh
trưởng Gia đình Phật tử Việt Nam(14). Chị Cúc là huynh
trưởng với chức vụ Phó ban Hướng dẫn Trung ương Gia đình
Phật tử Việt Nam, phụ trách ngành nữ từ năm 1947. Như vậy,
cư sĩ không chỉ tu tại gia mà còn tích cực hoạt động xã hội.
Tôi gặp chị Cúc lần
đầu tại đồi thông chùa Từ Hiếu (Huế) trong hội trại mang tên
Hoài Nhân do Gia đình Phật tử Việt Nam tổ chức năm 1974. Sau
đó, chúng tôi đôi lần ghé thăm chị ở nhà riêng tại Vỹ Dạ, mà
lần cuối cùng là lúc chị nằm thoi thóp trên giường bệnh sau
vụ tai nạn giao thông xảy ra tại TP Hồ Chí Minh ngày
11/8/1988 rồi được chuyển về Huế ngày 23/9/1988.
Ngày 3/2/1989, tức 27
tháng Chạp năm Mậu Thìn, Hoàng Thị Kim Cúc – pháp danh Tâm
Chánh – lìa trần, hưởng thọ 76 tuổi. Lễ di quan diễn ra ngày
15/2/1989, nhằm ngày mùng 10 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ. Lúc ấy,
tôi ở xa Huế nên không dự được. Vậy xin dẫn đoạn tường thuật
đám tang Hoàng Thị Kim Cúc do Mai Văn Hoan viết: “Có lẽ đó
là một trong những đám tang lớn nhất ở Huế gần đây mà tôi
được biết. Đoàn xe tang nối dài từ Đập Đá đến Trường Quốc
Học. Quanh xe tang đính nhiều câu đối ca ngợi phẩm hạnh của
bà. Tôi còn phát hiện có những bài thơ của các nhà sư họa
lại bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ”(15).
Ngoài ông anh cả là
Hoàng Toại định cư ở nước ngoài, Hoàng Thị Kim Cúc còn có
mấy người anh ruột tập kết ra Bắc sau hiệp định Genève 1954:
Hoàng Xuân Tùy (nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục), Hoàng Hoan
Nghinh (nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ta tại
Philippines). Người em ruột Hoàng Tế Ngộ ở lại Huế, trước
khi quy tiên từng là “thủ từ” trong ngôi nhà mà chị Cúc từng
sinh sống.
Anh em chú bác của
Hoàng Thị Kim Cúc có Hoàng Tùng Ngâm vốn là bạn thân cùng
nguyên quán Thừa Thiên, cùng tuổi Nhâm Tý (1912) và cùng làm
chung Sở Đạc điền Quy Nhơn với Hàn. Năm 1954, Hoàng Tùng
Ngâm tập kết ra Bắc, đổi tên là Hoàng Thanh Trai và từng làm
đại sứ nước ta tại Ai Cập rồi tại Sri Lanka. Tết Bính Thìn
(1976) thì mất ở Hà Nội.(9) Năm 1939, chính nhờ “xúc tác”
của Hoàng Tùng Ngâm, Hàn đã hứng khởi sáng tạo một số áng
thơ tặng Hoàng Thị Kim Cúc – trong đó có Ở đây thôn Vỹ Dạ,
một tác phẩm gây nhiều tranh luận lâu nay.
Áng thơ Ở đây thôn
Vỹ Dạ – nhan đề nguyên tác cùng một số lời bình
Năm 1992, ba cuộc
hội thảo lớn được tổ chức ở Hà Nội và TP.HCM nhằm nhìn lại
và đánh giá 60 năm phong trào Thơ mới. Ban tổ chức đã đề
nghị các nhà thơ, nhà nghiên cứu – lý luận – phê bình bỏ
phiếu chọn những bài Thơ mới hay nhất. Kết quả cuối cùng, Ở
đây thôn Vỹ Dạ của Hàn lọt vào “top 18”.
Quanh áng thơ nổi
tiếng này, lâu nay rộ lên nhiều cuộc tranh luận sôi nổi –
nhất là từ khi tác phẩm được Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết
định đưa vào giảng dạy chính thức trong chương trình lớp 11
bậc trung học phổ thông. Theo dõi các cuộc tranh luận đó,
tôi nhận thấy một số chi tiết bị nhầm lẫn rất đáng buồn. Tại
sao? Có nhiều lý do. Hai trong những lý do quan trọng là
thiếu thực tế và thiếu tư liệu tham khảo cần thiết.
Điều nhầm lẫn phổ
biến đầu tiên nằm ở… nhan đề bài thơ! Nguyên tác, Hàn viết Ở
đây thôn Vỹ Giạ chứ không phải Đây thôn Vỹ Dạ như sách báo –
kể cả giáo khoa và giáo trình – vẫn in. Địa danh có thể
chỉnh sửa cho thống nhất chính tả: Vỹ Dạ hoặc Vĩ Dạ thay vì
Vỹ Giạ(16). Còn chữ Ở hà cớ gì bị lược bỏ? Nếu muốn gọn hóa
tối đa, Ở đây thôn Vỹ Dạ rất dễ biến thành Thôn Vỹ chăng?
Nhà văn Trần Thanh
Địch nhận xét:
- Chữ Ở được Hàn
dùng có chủ đích. Đọc kỹ bài thơ mới thấy chữ đó nhấn mạnh
đến thôn Vỹ: Ở đây sương khói mờ nhân ảnh. Tùy tiện “biên
tập” cả “titre” mà không được tác giả ưng thuận là tối kỵ.
Chuyện như vậy xảy ra không ít đối với tác phẩm của Hàn! Như
bài Sao, vàng sao – một bài thơ khác mà Hàn gởi tặng chị Cúc
– lâu nay cứ bị “chụp” cái tên Đừng cho lòng bay xa.
Cả hai áng thơ vừa
nhắc đều được Hàn Mạc Tử đưa vào tập Thượng thanh khí, chứ
chẳng phải tập Thơ điên (tức Đau thương). Đây là một nhầm
lẫn khác mà đa số tuyển thơ cùng nhiều bài viết vẫn mắc
phải.
Trong cuốn Thơ Hàn
Mạc Tử và những lời bình(17), Mã Giang Lân lại cho rằng Ở
đây thôn Vỹ Dạ vốn in lần đầu trên giai phẩm Nắng Xuân năm
1937. Hỡi ôi! Bài thơ được hoàn tất năm 1939, liệu có thể
công bố trước hai năm chăng?
Thậm chí có người,
như Vũ Quần Phương qua lời tựa tập Hàn Mặc Tử – thơ với tuổi
thơ(18), nghĩ rằng áng thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ mang vẻ đẹp
“trong trẻo” và thể hiện bằng giọng điệu “bình tĩnh” nên tin
chắc đây là một sáng tác thuộc giai đoạn đầu của Hàn, giai
đoạn thân chưa phát bệnh và thơ chưa phát “điên”. Thật ra,
Hàn lúc này đang đau khổ lánh mình với nguồn thơ úa mãi hai
hàng lệ(19) rồi lâm chung sau đấy đúng một năm tròn!
Hiểu rõ xuất xứ
cùng hoàn cảnh sáng tạo tác phẩm, ắt sẽ góp phần giúp bạn
đọc tiếp nhận bài thơ theo cách đúng đắn hơn, chuẩn xác hơn.
Do đó, tôi sao lục thêm ba đoạn thư liên quan do chính người
trong cuộc là Hoàng Thị Kim Cúc giãi bày.
Thư đề ngày
15/4/1971 gởi Quách Tấn: “Về cô gái trong câu Lá trúc che
ngang mặt chữ điền mà ông hỏi có phải là tôi đó không. Thưa
ông, bức ảnh đó chỉ là bức ảnh phong cảnh, không có cô gái
nào khác ngoài cô gái chèo đò. Cô gái mà ông hỏi đó là do
sức tưởng tượng của thi nhân mà hiện ra thôi. Số là mùa hè
năm 1939, Ngâm viết thư về Huế cho biết Tử bị mắc bệnh nan
y. Ngâm khuyên tôi nên viết thư thăm Tử, hãy an ủi một tâm
hồn đau khổ. Thay vì viết thư thăm, tôi gởi một bức ảnh
phong cảnh vừa bằng cái carte-visite(20).
Trong ảnh có mây, có
nước, có chiếc đò ngang với cô gái chèo đò, có mấy khóm tre,
có cả ánh trăng hay ánh mặt trời chiếu xuống nước. Tôi viết
sau tấm ảnh mấy lời hỏi thăm sức khỏe Tử, mà không ký tên,
rồi gởi nhờ Ngâm trao lại. Sau đó một thời gian, tôi nhận
bài thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ và một bài thơ khác nữa(21) cũng do
Ngâm gởi về (bài này các sách báo đều đăng cả rồi). Không
ngờ sức tưởng tượng của thi nhân quá khác thường đến biến
bức ảnh phong cảnh đó thành bức ảnh bến Vỹ Dạ lúc hừng đông
hay một đêm trăng, trong đó có cô gái Lá trúc che ngang mặt
chữ điền nữa! Khiến có người đã nghĩ rằng cô gái đó mặc áo
trắng dài tha thướt vì câu Áo em trắng quá nhìn không ra…”.
Thư đề ngày
16/10/1987 gởi Nguyễn Bá Tín: “Năm 1938, Ngâm cho biết Hàn
Mặc Tử mắc bệnh nan y. (…) Xiết bao ngậm ngùi thương cảm.
Thương cho người tài hoa lâm đại nạn! Cảm tấm lòng yêu
thương thắm thiết chân thành của Tử đã dành riêng cho tôi!
Một thời gian sau, Ngâm đề nghị: lúc này, chị nên an ủi Trí.
(…). Xa xôi quá, không biết làm gì khác hơn là viết mấy hàng
chữ hỏi thăm sức khỏe Tử, viết mà không chữ ký, không đề
ngày, sau tấm ảnh phong cảnh Huế, gởi nhờ Ngâm trao lại. Rồi
mấy tháng sau, Ngâm gởi về cho tôi bài thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ
với mấy hàng chữ sau lưng bài thơ vào tháng 8/1939. Giữa Hàn
Mặc Tử và tôi chỉ có chừng nấy.”
Thư đề ngày
11/5/1988 gởi anh cả Hoàng Toại: “Đến khi nghe anh ta(22)
mắc bệnh nan y, em rất xót thương cho người tài hoa bạc phận
và để an ủi một tâm hồn tha thiết yêu thương đang vô cùng
đau khổ, em gởi cho anh ta hai dòng chữ hỏi thăm sức khỏe
viết trên một tấm cát 6×9(23) phong cảnh thành phố Huế, ảnh
mua ở nhà chụp bóng Tăng Vinh. Sau khi nhận được bức phong
cảnh đó thì anh ta gởi bài thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ tặng em. Thư
đi thư về đều qua tay Ngâm chuyển, chứ em không trực tiếp
gởi. Và sau mấy hàng chữ thăm sức khỏe và sau khi nhận được
bài thơ Hàn Mạc Tử tặng, em cũng nín luôn, không thư từ gì
cho thi sĩ nữa, qua năm sau (1940) thì được tin Hàn Mạc Tử
mất tại Quy Hòa”.
Áng thơ Ở đây thôn
Vỹ Dạ cùng bức thư của Hàn đã được Hoàng Thị Kim Cúc trân
trọng giữ gìn tại nhà riêng. Đó là tờ giấy pelure mỏng, một
mặt chép bài thơ, mặt kia ghi mấy dòng thư. Rất may mắn được
chị Cúc lúc sinh tiền cho xem tận mắt, tôi chú ý mấy điểm:
bài thơ gồm 3 khổ thì khổ cuối trong thủ bản nằm cách biệt
với hai khổ đầu, cuối bài thơ, tác giả ký Hàn Mạc Tử rồi đề
11-1939 (chứ không phải 8-1939). Còn bức thư thì nguyên văn
như sau:
Túc hạ,
Có nhận được bức ảnh
bến Vỹ Giạ lúc hừng đông (hay là một đêm trăng?) với mấy
hàng chữ túc hạ gởi thăm. Muôn vàn cảm tạ. Túc hạ còn nhớ
đến người năm xưa, thế là phúc hậu lắm rồi. Mong ơn trên
xuống lộc cho túc hạ thật đầy. Và mong rằng một mùa xuân nào
đây sẽ gặp lại túc hạ phỉ dạ. Thăm túc hạ bình an vui vẻ.
Hàn Mạc Tử
Hoàng Thị Kim Cúc
với bút danh Hoàng Hoa đã âm thầm sáng tác một số bài thơ,
trong đó có những bài “đề tặng hương hồn anh HMT” như bài
dưới đây viết vào đầu xuân Tân Tỵ 1941 – nghĩa là sau khi
Hàn mất chưa đầy năm.
Bao năm hoa sống
nơi thôn Vỹ
Thầm giữ trong lòng một
ý thơ
Cũng biết cách xa ngoài
vạn dặm
Tình anh lưu luyến cảnh
quê mơ
Một mình một cõi
với trời mây
Với cả đau thương với
hận này
Anh khéo lột hết tài
nghệ sĩ
Tiếng vang muôn thuở
vẫn còn đây
Hồn anh lẩn khuất ở
đâu xa
Hoa biết cùng ai thổ lộ
ra
Tuy sống giữa cảnh đời
náo nhiệt
Tình ai ai vẫn cứ đậm
đà!
Nếu chỉ đọc qua bài
thơ của Hoàng Hoa thôn nữ, lại thấy nàng suốt đời độc thân
và bảo lưu kỹ lưỡng thủ bút Hàn thi sĩ, mà chưa đọc thư từ
Hoàng Hoa viết hoặc chưa nghe Hoàng Hoa bộc bạch niềm riêng,
hẳn không ít người sẽ dễ tin chuyện tình Hàn Mạc Tử – Hoàng
Thị Kim Cúc từng diễn ra “ly kỳ mùi mẫn” y như sách báo và
tuồng tích đã dày công… thêu dệt. Mức độ ngộ nhận càng tăng
vì ngay cả người nhà cũng chẳng thấy Hoàng Thị Kim Cúc phản
ứng gì trước bao đồn thổi, thị phi.
Chính xác, như
chúng ta đã biết, Hoàng Thị Kim Cúc có phản ứng chừng mực,
đúng người, đúng lúc, song chẳng đạt kết quả như nguyện.
Trong một bài viết đăng trên tuần báo Văn nghệ số ra ngày
14/10/1995, Võ Đình Cường lý giải kỹ càng: “Những người có
liên hệ mật thiết với Hàn Mạc Tử mà chị(24) đã cho biết sự
thật, và yêu cầu họ đính chính, thì họ đã không làm, hay làm
ngược lại, gây thêm hỏa mù trong bối cảnh đã có nhiều sương
khói làm mờ nhân ảnh.
Chẳng hạn như ông
Nguyễn Bá Tín, tác giả cuốn hồi ký Hàn Mạc Tử anh tôi(25)
xuất bản vào tháng 2/1991, sau bức thư của Hoàng Thị Kim Cúc
gởi cho ông vào tháng 10/1987, nghĩa là sau gần 4 năm, nói
rõ về tấm ảnh gởi Hàn Mạc Tử, là một tấm ảnh phong cảnh, thế
mà ông Nguyễn Bá Tín lại viết: ‘Cho tới khi anh (22) đau
nặng rồi (1939), chị Cúc còn cho anh một phiến ảnh cỡ
6×9(23): chị Cúc mặc áo dài lụa trắng như những cô gái Huế
thời bấy giờ đứng trong vòm cây xanh mát. Anh làm ngay bài
thơ Đây thôn Vỹ Dạ…”.
Quan trọng hơn nữa,
cái đoạn chị Kim Cúc kể chuyện chị đã không nhận thư và sách
của Hàn Mạc Tử đem tặng, tác giả Hàn Mạc Tử anh tôi đã bỏ
qua, không nhắc đến. Nhưng tác giả lại viết: ‘Nếu anh(22)
biết chị(24) đã quy y, dành riêng một căn phòng ngày đêm
hương hỏa tụng niệm, tưởng nhớ mối tình bất diệt của anh mà
cũng là mối tình đầu của chị, đang quyện theo trầm hương
dâng lên anh nơi miền cực lạc. Nơi đây không còn ngăn cách
giáo lương, không còn tham sân si trần tục. Ôi! Tình Hoàng
Hoa đậm đà biết chừng nào!’ (…) Chị Kim Cúc có buồn không,
khi bị người ta vô tình hay cố ý lái cái mục đích cao quý
trong sự tu hành của chị về phía tôn thờ một người khác tôn
giáo mà chị chỉ có thể có cảm tình, chứ không yêu?”.
Phân tích nội dung
và nghệ thuật áng thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ, đã thấy xuất hiện
khối trường hợp “bàn rồi tính” nối tiếp “bình rồi… tán” đến
mức ì xèo! Ngang qua nhà Hoàng Thị Kim Cúc ở Vỹ Dạ, thấy
hàng cau trồng nép bờ rào, có người chắc mẩm dòng Nhìn nắng
hàng cau nắng mới lên phải “mọc” từ đây! Hồi trước, vào vườn
nhà chị Cúc, chúng tôi chưa thấy cây cau nào. Ông Nguyễn Bá
Tín cũng ghi trong Hàn Mạc Tử trong riêng tư(26) rằng: “Năm
1985, tôi về Huế ghé thăm chị Cúc (…), chị Cúc chợt hỏi: Cậu
có tìm được một cây cau nào trong vườn tôi không? Sao anh
Trí lại nói đến hàng cau?”.
Công bố bài Một
cách hiểu khác về “mặt chữ điền”(27), Thang Ngọc Pho lại tự
bộc lộ chưa một lần về thôn Vỹ hoặc ghé Vỹ thôn nhưng thiếu
quan sát đủ đầy mà vẫn bạo dạn khẳng quyết: “Mặt trước phía
trên cổng nhà ở của quý tộc phong kiến ở đây(28) thường
trang trí chữ điền đắp nổi. Điền, chữ Hán, có nghĩa là
ruộng. Đó là biểu tượng của các gia đình quý tộc phong kiến,
được nhà vua phong cấp ruộng đất theo cấp bậc và công trạng.
Từ mặt trong câu thơ là mặt chữ chứ không phải là mặt người.
Tác giả sử dụng phép ẩn dụ với nghĩa phái sinh như mặt bàn,
mặt nước, mặt đường… Vậy câu thơ Lá trúc che ngang mặt chữ
điền được hiểu là những chữ điền trên cổng các nhà quý tộc
thấp thoáng dưới lá trúc. Cách hiểu này làm tăng giá trị của
bài thơ.”
Thú thật, bản thân
tôi từng sống ở Vỹ Dạ suốt thời gian dài mà không thấy cổng
nhà quý tộc nào đắp nổi chữ 田 điền. Thêm một thực tế nữa cần
nêu, Hoàng Thị Kim Cúc là phụ nữ có khuôn mặt chữ điền.
Quá quắt hơn là
trường hợp suy diễn chủ quan cực kỳ kệch cỡm: cô gái thôn Vỹ
trở thành… kỹ nữ, khách đường xa biến ra khách làng chơi,
thuyền ai đậu bến sông trăng trở nên buồng chứa nổi. Bằng
lối gán ghép thô vụng như thế, Lê Đình Mai đã “phán” xanh
rờn trong bài Đây thôn Vỹ Dạ – một tiếng thở dài đáng
quý(29): “Ở chốn dâm ô này, những gì đẹp đẽ nhất, cao quý
nhất của con người đều bị sương khói truy hoan lu mờ hết,
hoen ố hết.” Nhiều tác giả đã lên tiếng phản bác cách lập
luận khiên cưỡng đó. Chẳng ai phủ nhận trên dòng sông Hương
xưa nay xuất hiện những điểm kinh doanh trò “ngủ đò tục”,
quá khứ có lúc gần như công khai (30), song đoạn sông qua
khu vực thôn Vỹ thì hoàn toàn khác.
Trên tập san Văn
hóa và đời sống (31), đề cập đến sự hạn chế trong một số bài
viết về áng thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ xuất hiện bấy lâu nay, Văn
Tâm sơ bộ chỉ ra bốn nguyên nhân: thứ nhất là thói quen xã
hội học dung tục; thứ hai là người nghiên cứu không am tường
phong cách nghệ thuật của đối tượng mà mình tìm hiểu; thứ ba
là mỹ cảm kém nhạy bén; thứ tư là thái độ tùy tiện, thiếu
nghiêm túc trong khâu xác định và khảo chứng tư liệu.
Chú thích:
* Nhà báo, Tuần san Thế
giới mới
(1) Nguyễn Trọng
Trí (1912-1940) ký nhiều bút danh, trong đó có Hàn Mạc Tử và
Hàn Mặc Tử. Khảo sát kỹ lưỡng, nhiều nhà nghiên cứu nhận
thấy bút danh chính thức của Nguyễn Trọng Trí những năm cuối
đời là Hàn Mạc Tử. Điều ấy đã được Phanxipăng trình bày rõ
qua bài “Chính danh định luận: Mạc hay Mặc?” đăng trên tạp
chí Thế giới mới số 416 (11/12/2000).
(2) Pellerin hay
còn gọi là Trường Bình Linh, thuộc dòng La San, được sáng
lập tại Huế năm 1904, giảng dạy từ bậc tiểu học đến trung
học (tương đương lớp 1 đến lớp 12 hiện nay). Từ năm 2008, đó
là Học viện Âm nhạc Huế, địa chỉ số 1 Lê Lợi, thành phố Huế.
(3) Hai niên khóa
1928-1929 và 1929-1930, tại Trường Pellerin ở Huế, Nguyễn
Trọng Trí học lớp nhì năm thứ 2 / cour moyen 2è année (tương
đương lớp 4 hiện nay) và lớp nhất / cour supérieur (tương
đương lớp 5 hiện nay) là hai lớp thuộc bậc tiểu học – theo
sự phân cấp giáo dục trên toàn quốc từ năm 1906 đến năm 1945
– chứ hoàn toàn không phải “có hai năm học trung học tại
trường Pe-lơ-ranh (Pellerin) ở Huế? như sách giáo khoa hiện
hành Ngữ văn 11 (Tập hai – Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, 2008
và 2009 – Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010) đã in đi in
lại.
(4) Bài Đôi nét về
Hàn Mạc Tử được Quách Tấn (1910-1992) viết tại Nha Trang năm
1959, đăng tạp chí Lành mạnh số 38 (Huế, 1/11/1959), rồi lần
lượt đăng lại trên tập san Văn và bán nguyệt san Phổ thông,
đoạn in vào một số sách như Thơ Hàn Mạc Tử (Sở Văn hóa-Thông
tin Nghĩa Bình, 1987), Hàn Mạc Tử thơ và đời (Nxb Văn học,
Hà Nội, 1995), Hàn Mạc Tử hôm qua và hôm nay (Nxb Hội Nhà
văn, Hà Nội, 1995), v.v… Lưu ý rằng nội dung văn bản Đôi nét
về Hàn Mạc Tử có những thay đổi qua thời gian công bố.
(5) Hiện nay là
đường Lê Lợi, TP Quy Nhơn.
(6) Vở tuồng cải
lương Hàn Mạc Tử do Viễn Châu và Thể Hà Vân hợp soạn năm
1957.
(7) 21 tuổi ta, 20
tuổi tây, tức là vào năm 1933.
(8) Bên đó: Hoa Kỳ.
(9) Tham khảo thêm
bài “Bạn thân đồng tuế đồng hương của Hàn Mạc Tử” do
Phanxipăng viết đăng tạp chí Thế giới mới số 891 (5/7/2010).
(10) Sách Hàn Mạc
Tử của Trần Thanh Mại, in lần đầu năm 1942, sau được tái bản
nhiều lần.
(11) Cư sĩ: người
tu trì tại gia.
(12) Trích bài viết
“Nhớ cô Hoàng Kim Cúc” của Võ Thị Tiểu Kiều in trong tuyển
tập Đồng Khánh mái trường xưa năm 1992.
(13) Do nhà sách
Khai Trí ở Sài Gòn ấn hành lần đầu năm 1970, sau được nhiều
nhà xuất bản tái bản.
(14) Gia đnh Phật
tử có tiền thân là Đoàn Thanh niên Đức dục và Gia đnh Phật
hóa phổ được thành lập tại Huế vào thập niên 1930.
(15) Trích bài
“Tiếng thở dài – chia sẻ với Hàn Mạc Tử” đăng tạp chí Sông
Hương số 2 năm 1990, sau in vào sách Cảm nhận thơ Hàn Mạc Tử
(Nxb Thuận Hóa, Huế, 1999).
(16) Địa danh Vỹ Dạ
do biến âm từ gốc Vĩ (Vi) Dã 葦野°. Vĩ (Vi) 葦: cây lau. Dã 野°:
cánh đồng.
(17) Nxb Văn hóa
Thông tin, Hà Nội, 2000, trang 283.
(18) Nxb Kim Đồng,
Hà Nội, 2000, trang 5.
(19) Trích một dòng
từ bài thơ “Buồn ở đây” trong tập Thượng thanh khí của Hàn
Mạc Tử.
(20) Carte-visite:
carte de visite: danh thiếp.
(21) Bài thơ Sao,
vàng sao.
(22) Tức Hàn Mạc Tử.
(23) 6x9cm.
(24) Chỉ Hoàng Thị
Kim Cúc.
(25) Nxb Tin,
Paris, 1990 – Nxb TP HCM, 1991.
(26) Nxb Hội Nhà
văn, Hà Nội, 1994, trang 118.
(27) Tạp chí Tài
hoa trẻ, số 69 ra ngày 25/2/1999.
(28) Vỹ Dạ.
(29) Báo Giáo viên
nhân dân, số đặc biệt tháng 1/1990.
(30) Có thể đọc
phần Những con đò đưa khách trong bài “Sinh hoạt những vạn
đò trên sông Hương trước 1975” của Phan Hoàng Quý đăng trên
Nghiên cứu Huế, tập 1,1999 và phóng sự “Ngủ đò sông Hương”
in trong sách Huế chừ của Phanxipăng (Nxb Thanh niên, 2000).
(31) Nxb TP.HCM,
1990.
Theo Tạp chí Nghiên
cứu và Phát
triển
( Theo
Bee.nét. Bee không ghi rõ tên tác giả. Chúng tôi đoán là
củaủa Phan xiphang )
Copy lại từ :ngominhblog.wordpress.com
 |
 |
|
|