|
Luois Aragon vịn vào ba năm cuối cùng của thế kỷ
XIX như vịn vào đôi tay của người vú nuôi để
đứng dậy và lon ton tập đi. Aragon chính là tuổi
thơ còn sót lại của thế kỷ thứ XIX gửi tặng thế
kỷ thứ XX một chú đại bàng sắp ra ràng của nền
văn học Pháp và thế giới.
Chú đại bàng tơ này được sinh ra từ đôi cánh vĩ
đại của chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện
thực Pháp. Là đứa con tinh thần chính hiệu của
thế kỷ Hugo và Balzac, nhưng trong cuộc đời thực,
Aragon hầu như lại là một đứa con hoang. Suốt
tuổi thơ và tuổi thanh niên, nỗi ám ảnh, day dứt,
khổ đau về thân phận, về nguồn gốc, về cha mẹ...
đã đầy ải tâm hồn Aragon như Satan đầy ải con
người nơi địa ngục. Ngay từ khi tập nói, Aragon
đã phải gọi bà ngoại là mẹ nuôi, gọi chính mẹ
ruột mình là chị nuôi.
Năm 1917, trước ngày lên đường nhập ngũ, phải từ
bỏ trường y để lao vào cuộc chém giết khủng
khiếp có tên là Đại chiến thế giới lần thứ nhất,
mẹ ruột ông dưới danh nghĩa người chị nuôi
Marguerite chợt gọi chàng trai Aragon lại, thông
báo một số bí mật ghê gớm về nguồn gốc xuất thân
của ông. Aragon chết lặng trong uất hận và
thương mến, sung sướng và đớn đau. Ông cảm thấy
mình như vừa được chết, được tái sinh, ôm chặt
lấy mẹ như ôm một chiếc phao cứu nạn trên biển
cả. Cảm giác mãnh liệt, choáng váng, ngất ngây
phút thật sự có mẹ sau hai mươi năm hoài nghi
với nỗi mồ côi ấy như hoả diệm sơn ngùn ngụt
cháy suốt cuộc đời ông, tham dự vào mọi tình cảm
và mọi đam mê sáng tạo nghệ thuật nơi ông. Có lẽ
cảm giác ấy sau này đã sống dậy, thăng hoa,
chuyển hoá trong một hình thức khác êm ái và
ngọt ngào hơn khi lần đầu vào năm 1928, Aragon
gặp gỡ Elsa Triolet. Mãi sau này, năm 1942,
trước khi lìa đời, mẹ ông mới cho ông biết hết
bí mật về cuộc tình vụng trộm của cha mẹ ông và
thân thế người cha Louis André.
Trái đất có thể vẫn còn là kẻ mồ côi của vũ trụ,
nhưng ông không còn phải mồ côi mẹ nữa. Chừng
như Aragon đã khóc hôn mẹ để bước vào cuộc chiến
làm anh lính cứu thương ngoài mặt trận. Tuồng
như ông vẫn là đứa con không cha, đứa con hoang?
Suốt tuổi thơ và tuổi thanh niên, Aragon luôn
phải lặn xuống bản thân mình như lặn xuống biển
cả mù tăm để truy tìm căn nguyên, nguồn gốc.
Cuộc đời ông, nới rộng ra là Paris quê hương, là
nước Pháp, là nhân loại và thời đại luôn luôn là
một câu hỏi lớn quần thảo ông nghìn cơn bão vò
xé nội tâm
Ngay từ tuổi thơ, Aragon đã phải suy tư và quằn
quại về ý nghĩa tồn tại như chàng Hamlet. Những
bi kịch cá nhân và gia đình đã sớm đặt lên vai
ông cây khổ giá của cả một thế hệ sinh ra khi
Thượng Đế và Socrate đã bị Nietzsche toan giết
chết. Thế hệ ấy đã bị hai cuộc chiến tranh thế
giới tàn bạo và khủng khiếp chặn hai đầu, cắt
đứt quá khứ và tương lai, như không thể còn lối
thoát.
Sau hơn hai năm ngoi ngóp trong địa ngục châu
Âu, năm 1919, chiến tranh ném Aragon về lại
Paris hoà bình. Con người vô hồn mất phương
hướng, bị chiến tranh làm dị dạng tâm hồn ấy
bỗng trở thành kẻ mồ côi tinh thần như một châu
Âu thương vong chợt mồ côi chủ nghĩa nhân văn
quá khứ. Cả một thế hệ thanh niên đi hoang như
đàn gà con lạc mẹ. Aragon đã dễ dàng ngả vào
vòng tay của trào lưu văn nghệ đập phá, phủ nhận
sạch trơn mọi thành tựu nghệ thuật có tên là
Dada, do văn sĩ người Rumani Tristan Tzara
(1896-1963) sáng lập tại Zurich - Thụy Sỹ từ năm
1916. Sau đó, cùng với Paul Éluard, Aragon đã từ
bỏ nhóm Dada hũ nút để tham gia vào trường phái
siêu thực do Apollinaire (1880-1918) đặt tên và
André Breton làm lý thuyết gia với châm ngôn nổi
tiếng là phải viết như một cái máy tự động
(écriture automatique).
Sau thời gian tôn thờ các vị thần của chủ nghĩa
siêu thực là Lautréamont, Freud, Nietszche...
phủ nhận và chối bỏ ý thức, chối bỏ hiện thực,
coi vô thức là con đường duy nhất dẫn đến cảm
hứng nghệ thuật, Aragon hầu như đã bị thứ nghệ
thuật thôi miên này làm cho ma mị. Và có thể,
nếu không có lý tưởng và tình yêu hoà nhập trong
một người đàn bà trần thế sẽ đến cứu chuộc cuộc
đời ông, biết đâu Aragon đã phải chết đuối trên
mặt đất, dù là mặt đất của Paris hoa lệ đi nữa.
Làm con cá thi ca bơi lội trong biển cả ảo giác,
dùng một thứ thực phẩm phi lý, quẫy lên những
tiếng quẫy quái dị cùng đường, Aragon chừng như
không còn gì liên hệ tới mặt đất của thực tại.
Là một chiến tướng của chủ nghĩa siêu thực Pháp,
thế mà có lúc, buồn chán và tuyệt vọng đeo đuổi
ông, khiến nhiều khi Aragon toan tính tự sát.
Ông có thể đã vĩnh viễn chui vào hũ rượu siêu
thực và không thể nào tỉnh dậy để thoát ra khỏi
cái thế giới lên men, thoát khỏi một thứ nhân
loại đã bã ra, ngấu xuống, bốc hơi để hoá cồn
chín mươi độ ấy nếu không có chuyện cuối năm
1928 gặp Elsa Triolet (1896-1970) - em vợ nhà
thơ Nga Xô viết Maiacovxki.
Elsa, người đàn bà Nga gốc Do Thái chính là cột
mốc tái sinh lớn nhất cuộc đời Aragon như ông
từng viết: Anh quả thật đã sinh từ môi ấy/ Cuộc
đời anh khởi sự tự em đây. Elsa với mái tóc vàng
tĩnh vật Levitan kiêu kỳ, lộng lẫy, chợt đổ
xuống hồn người đàn ông siêu thực Pháp toàn bộ
cái hiện thực vô bờ bến của mùa thu Nga vàng
ngập lụt chân trời, ngập lụt cả tâm hồn Aragon
chất vàng mười trang trọng Taiga. Elsa với đôi
mắt xanh thẳm khôn cùng của những thảo nguyên
Nga vô tận đã vây bủa chàng thi sĩ Pháp, như thể
Aragon vừa rơi xuống đáy cùng của thế giới, nơi
chỉ có tình yêu và thi ca kết hợp lại thành bài
ca bất tử.
Tưởng là cuộc tình sét đánh làm ông ngất đi
trong mê dại điên cuồng, trái lại, đã thức tỉnh
ông, lay ông dậy sau giấc hôn mê siêu thực, siêu
hình, siêu giác. Cũng như hai người đàn bà Nga
khác là Gala và Olga Khklova tác động thôi thúc
hai thiên tài hội hoạ là Salvador Dali và
Picasso phát triển; Elsa không chỉ là nguồn cảm
hứng, nguồn hạnh phúc, nguồn thơ của Aragon mà
còn là toàn bộ thế giới mới ông khám phá ra
thông qua tâm hồn - thể xác người đàn bà sẽ là
vợ ông cho tới chết. Từ khi được Elsa hoá,
Aragon dần dần đã trở lại vườn Eden có thực của
con người, hoà nhập con người cá nhân vào con
người xã hội như tâm hồn ông hoà vào tâm hồn
người đàn bà Nga theo kiểu nước sông Volga hòa
vào biển Caxpi. Khoảng năm 1930, 1931 Aragon
chia tay với trào lưu siêu thực để trở về với
chủ nghĩa hiện thực khi chủ nghĩa siêu thực đã
suy đồi, đã bế tắc cùng cực, đã bị chế giễu là
chủ nghĩa hũ nút (hermétisme).
Đây là giai đoạn có tính cách quyết định tới
toàn bộ sự nghiệp khổng lồ của Aragon kể cả tiểu
thuyết và thi ca, khi sau này ông đóng góp cho
văn học Pháp và văn học thế giới. Đây cũng chính
là bài học nhãn tiền cho những nhà hậu siêu thực
khác từng đua đòi vô thức hoá, phi lý hoá, suồng
sã hoá nghệ thuật, kể cả ở nước ta những năm gần
đây. Năm 1934, dưới bóng mát của tình yêu Elsa,
Aragon đã bắt đầu viết bộ tiểu thuyết đồ sộ là
Thế giới hiện thực, tiếp tục truyền thống lớn
lao của chủ nghĩa hiện thực Pháp với thiên tài
Balzac và những đỉnh cao Stendhal, Flaubert,
Maupassant, Zola... của thế kỷ trước.
Cùng với một vài nhà văn khác, hầu như Aragon đã
bắc được cây cầu qua hai hố thẳm do hai cuộc
chiến tranh thế giới để lại, đặng nối liền hiện
tại khủng hoảng sụp đổ với truyền thống của chủ
nghĩa hiện thực Pháp trong quá khứ. Phong trào
Dada và siêu thực sinh ra bởi tuyệt vọng chiến
tranh, từng tìm cách cắt đứt mình với truyền
thống, chối bỏ chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa
hiện thực thế kỷ thứ XIX. Tưởng chủ nghĩa hiện
thực đã hết thời, đã không còn đất sống. Nhưng
chủ nghĩa hiện thực hầu như đã được phục sinh
trong bộ thiểu thuyết lớn lao Thế giới hiện thực
của Aragon. Nhiều người cho rằng chính tiểu
thuyết mới là sự đóng góp lớn nhất của ông cho
văn học Pháp. Bởi thông qua hàng ngàn trang sách
ấy, nước Pháp trong số phận những nhân vật,
những con người bị thế giới tư bản ném vào chiến
tranh, ném vào công xưởng, ném vào cuộc đời như
người ta ném gà con cho diều quạ. Hai cuộc chiến
tranh thế giới tàn bạo nhất trong lịch sử nhân
loại do chủ nghĩa tư bản sinh ra ở nửa đầu thế
kỷ hai mươi giống như hai cái bìa bằng khói lửa
và đau thương của bộ tiểu thuyết hiện thực này.
Hầu như toàn bộ máu và nước mắt mồ hôi, niềm
phẫn nộ và bi thương, sự thống khổ và dằn vặt
tìm đường, ý chí quật cường giải phóng ách phát
xít của châu Âu nói chung và nước Pháp nói riêng
trong thế kỷ XX đều có mặt nơi bộ tiểu thuyết
trường thiên này.
Có thể nói đây chính là một Tấn trò đời mới, như
thế kỷ XIX từng hiện lên dưới ngòi bút hiện thực
của thiên tài Balzac. Tên các cuốn tiểu thuyết
của Aragon trong bộ Thế giới hiện thực xuất hiện
liên tục làm sôi nổi văn đàn Pháp với những:
Chuông thành Bal (1934), Những khu phố đẹp
(1936), Những người du lịch trên hoàng xa
(1938), Aurélien (1944), Những người Cộng sản
(1949-1951), Tuần lễ thánh (1958)... Hàng trăm
nhân vật của bộ tiểu thuyết theo những lộ trình
bi kịch của số phận, kéo nhau vào văn học theo
hành trình sống và chết, yêu thương và căm thù.
Những số phận bị đẩy vào chân tường ấy, may mắn
thay, dưới ngòi bút nhân đạo chủ nghĩa của
Aragon, dù là tăm tối, bị dày vò đủ đường, vẫn
giữ được niềm tin vào tương lai nhân loại, vào
con đường giải phóng đang chờ họ. Đấy là nét mới
mẻ do phương pháp sáng tác hiện thực mới mang
lại cho ngòi bút tiểu thuyết Aragon so với chủ
nghĩa hiện thực quằn quại và khốc liệt của quá
khứ. Trong đống tro tàn của tuyệt vọng châu Âu
do hai cuộc đại chiến thế giới gây ra, chừng như
qua trước tác của Aragon, con phượng hoàng của
hy vọng đã hồi sinh và vỗ cánh.
Bên cạnh tiểu thuyết và phê bình văn học ra,
Aragon còn có một sự nghiệp thi ca rất lớn lao
ngay từ thời ông còn là một trong những người đề
xướng ra trào lưu siêu thực. Nhiều người cho
rằng thơ Aragon đồ sộ và hay hơn cả các thi sĩ
đồng thời như P. Eluard, J. Pévert, Saint-John
Perse. Có thể nói Aragon là nhà thơ tình lớn
nhất thế kỷ XX không chỉ trong văn chương Pháp
mà còn cả trong văn chương thế giới. Nàng Elsa
thông qua thi ca của Aragon như được biến thành
Eva, thành biểu tượng cho cái đẹp và yêu thương
của toàn thế giới. Chưa bao giờ hình ảnh người
đàn bà được vinh danh, được tụng ca như hình ảnh
của tạo hoá, hình ảnh của chân thiện mỹ như
trong thơ tình của Aragon. Đôi mắt xanh, mái tóc
vàng, bàn tay thon dài và thân hình kiều diễm
của Elsa đã trở thành thi ca, thành xúc cảm của
hàng trăm trang diễm lệ.
Nàng thơ Elsa không chỉ là tình cảm thẩm mỹ mà
còn là tư tưởng thẩm mỹ, là trí tuệ được lãng
mạn hoá của Aragon. Những dòng thơ cuồn cuộn
thác chảy hồn ông về phía chân trời của các
trưởng lão, của những bí mật tâm hồn người đàn
bà mà ngoài thi ca ra không có gì có thể tới
được. Ngay trong thời kỳ chống phát xít Đức, thơ
tình của Aragon đã trở thành thơ chiến đấu. Cái
đẹp của Elsa, cái tuyệt mỹ của nghệ thuật đã trở
thành vũ khí diệt quân thù. Trong cuộc chiến
tranh vệ quốc của nhân dân Pháp, cùng với Éluard,
Aragon đã trở thành nhà thơ chiến đấu lớn nhất
và được tôn vinh nhất. Đây chính là ví dụ nhãn
tiền chống lại trường phái nghệ thuật vị nghệ
thuật ( cực đoan) và những quan niệm lệch lạc
khác phủ nhận tính dấn thân của văn học. Aragon
đã đóng góp rất lớn cho sự phát triển của nghệ
thuật thi ca Pháp bằng những thủ pháp tích cực
của trào lưu siêu thực, hoà trộn siêu thực vào
hiện thực, hiện thực vào lãng mạn như ông và
Elsa đã hoà hợp lại trong tình yêu văn nghệ.
Có lẽ, ở bên kia thế giới, Aragon đang cùng Elsa
bay lượn như những tinh cầu của cái đẹp. Cái
chết, sự cô đơn, niềm hư vô của thế giới như
không còn trọng lượng với hồn thơ trùm thế kỷ
này. Trong lúc niềm tin vào chân thiện mỹ, tin
vào tương lai nhân loại của ông đang bị thời
cuộc hiện nay thử thách, nếu chợt Aragon sống
dậy, chắc chắn sẽ đọc to câu thơ thuở nào ông
từng viết: Nếu phải đi trở lại / Tôi vẫn đi lối
này. Vâng, Aragon, một thế kỷ trong một con
người, một thi hào, một văn hào Pháp mãi mãi là
biểu tượng cho cuộc chiến đấu thiêng liêng của
nhân loại chống lại cái xấu xa, tàn bạo, xác lập
một thế giới tốt đẹp hơn, nhân ái và bao dung
hơn. Nghệ thuật biểu hiện cái đẹp, hướng tới
chân thiện mỹ nhưng cái đẹp luôn đồng hành cùng
cái có ích, cái tốt chứ không phải cái vô nghĩa
và phi lý. Phải chăng điều này chính là thông
điệp Aragon gởi đến chúng ta, nhất là trong
những năm gần đây, sự tìm tòi cực đoan của một
thiểu số lớp trẻ nào đó trong thẩm mỹ thi ca hầu
như thiếu một định hướng đúng?
Trần Mạnh Hảo
Nguồn:trannhuong.com
|