|

Tôi biết tới Dương Khuê đầu tiên nhờ
Khóc bạn của Nguyễn Khuyến. Đó là bài
thơ khóc bạn sâu sắc nhất, chân thành,
cảm động và sang trọng nhất mà tôi biết
cho tới nay. Qua nhân cách lớn Nguyễn
Khuyến, tôi trân trọng nhà thơ Dương
Khuê. Nhưng văn học sử dạy “trước cảnh
nước mất nhà tan, tác giả đi vào con
đường hưởng lạc” nên tôi dừng lại ở đấy.
Chưa khi nào tôi đọc văn bản ca từ bài
Hồng Hồng Tuyết Tuyết dù không biết bao
nhiêu lần nó nỉ non bên tai.
Do một
thắc mắc về học thuật, người bạn gửi cho
tôi bài viết của anh nhân giỗ lần thứ
hai giáo sư Dương Thiệu Tống. Cùng với
mắc mớ được giải tỏa, tình cờ tôi được
đọc lời tâm sự của vị giáo sư đáng kính
với anh là học trò của ông: Dương Khuê
đỗ đạt sớm, ra làm quan, nhưng sau khi
dâng tấu đề nghị triều đình đánh Pháp,
bị vua Tự Đức phê là “không biết thời
cơ” rồi giáng chức. Thời gian sau, khi
Pháp chiếm Nam Kỳ, vua nghĩ lại, vời vào
cung mưu sự thì lúc này tất cả đã muộn.
Ít lâu sau ông từ quan, về trí sĩ. Bài
hát là lời Dương Khuê trách khéo vua Tự
Đức.
Như ánh
chớp lóe sáng, những dòng chữ ngắn ngủi
buộc tôi tìm hiểu Dương Khuê và đọc Hồng
Hồng Tuyết Tuyết.
Ngày
xưa Tuyết muốn lấy ông,
Ông chê Tuyết bé, Tuyết không biết gì.
Bây giờ Tuyết đã đến thì,
Ông muốn lấy Tuyết, Tuyết chê ông già
Lời giáo
đầu bài hát kể về mối tình trắc trở do
so le tuổi tác: khi giai nhân phải lòng
tài tử thì tài tử không để ý tới. Rồi
ngày gặp lại, giai nhân nở bừng đóa hoa
hương sắc thì tài tử đã già! Mưỡu hé mở
câu chuyện tình, hứa hẹn những tình tiết
mùi mẫn của cái tình muôn thuở.
Ý tưởng
của phần dạo đầu được lần nữa củng cố
bằng hai câu thơ chữ Hán:
Ngã lãng du thời quân thượng thiếu
Quân kim hứa giá ngã thành ông
Khi ta tráng niên bay nhảy thì nàng
còn nhỏ. Nay nàng tới tuổi lấy
chồng, ta đã già!
Cười
cười, nói nói, sượng sùng
Mà bạch phát với hồng nhan chừng ái
ngại.
Riêng một thú thanh sơn đi lại,
Khéo ngây ngây, dại dại với tình
Đàn ai? một tiếng dương tranh...
Khép lại
bài thơ, lắng lại những âm thanh réo
rắt, ta nhận ra, toàn bộ bài thơ là biểu
tượng của mối tình chung chung, mơ hồ,
không xác thực. Ngay cả cái tên người
đặt cho bài hát cũng không thực: Tuyết
không thực, Hồng cũng không thực nốt mà
chỉ là biểu trưng của nhan sắc. Đến ngay
cả cái nhan sắc cũng không thực nữa, vì
không có diện mạo, chỉ là màu trắng của
da, sắc hồng của má, vẻ đẹp ước lệ của
tuổi xuân muôn đời!
Trong đám
mây bảng lảng mơ hồ sương khói ấy, chỉ
duy nhất điều có thực là con số: Mười
lăm năm! Sao lại mười lăm mà không là
năm năm hay mười năm? Hẳn có người nói:
“Mười lăm năm thì tác giả mới già được”!
Đúng là phải bằng ấy năm tác giả mới có
thể già, theo logic của bài hát. Nhưng
cái có lý này tất dẫn tới sự vô lý trầm
trọng hơn: Khi vào “kỳ tơ liễu”, tức
nàng 18 tuổi. Vậy 15 năm trước, nàng là
ai? Chỉ là đứa trẻ lên ba! Đứa trẻ lên
ba làm sao mà “muốn lấy ông”? Nếu có
thực một Tuyết như vậy thì lúc đó, nàng
phải 13-15 tuổi. Hôm nay, sau 15 năm,
nếu không chồng con đùm đề thì Tuyết đã
là cô gái già ngoài 30 tuổi, làm gì còn
xuân sắc đang thì để mà chọn canh kén
cá?
Chính cái
cụ thể, cái thật trần trụi này tố giác
với ta: “nàng” Tuyết là không hề có!
Không có con người, không có mối tình
nên bài thơ là giả, hoàn toàn
giả!
Hãy điểm qua đôi bài
thơ loại này. Đây là Tú Xương:
Chỉn e rầy gió mai mưa,
Lấy gì đi sớm về trưa với tình.
Còn đây, Ung Bình Thúc Giạ Thị:
Đêm khuya một chiếc thuyền nan,
Một cô gái Huế một quan đại thần.
Ban ngày quan lớn như thần,
Ban đêm quan lớn
tần mần như ma.
Ban ngày quan lớn
là cha,
Ban đêm quan lớn ngầy ngà như con…
Khi được biết những nhân vật trữ
tình là con người có thực, rất
riêng, cụ thể, sống động của Tú
Xương và Ưng Bình, ta không thể chịu
được cái giả vô lý, vụng về đến thô
thiển của Dương
Khuê!
Một câu hỏi phải được đặt ra: vì sao
tác giả của những câu thơ bất hủ
Gió đưa cành trúc trăng tà, Tiếng
chuông Trấn Võ canh gà Thọ Xương…
lại có thể chế tác bài thơ giả cho
nên dở đến vậy? Chỉ có thể hiểu:
không hề có Hồng có Tuyết nào, cũng
không hề có mối tình nào cả! Nhà thơ
hư cấu ra mối tình giả tưởng để phổ
vào đó tâm trạng của mình. Đó là nỗi
dằn vặt, tiếc nuối của một cuộc đời
bầm dập vì bất đắc chí. Đó là lời
oán trách vua Tự Đức vì không hiểu
ông rồi khi nghĩ lại thì tất cả đã
muộn màng!
Câu hỏi
khác cũng tới: phải chăng chính cái giả,
cái vô lý ấy lại là một thủ pháp nghệ
thuật? Tác giả tung màn khói mù với bốn
câu Mưỡu để cho người đọc, người nghe
tin là có mối tình. Sau đó dùng hai câu
chữ Hán củng cố niềm tin ấy. Tiếp theo,
câu Riêng một thú thanh sơn đi lại bồi
thêm cú nữa để mọi người tin rằng đó là
nơi đi về của xóm cô đầu! Và để đạt ý đồ
nghệ thuật của mình, tác giả đã kỳ công
sắp xếp cho những câu chữ của bài hát có
được vần điệu đạt tới mức thượng thừa
của nghệ thuật ca trù. Kết quả là, vây
trong màn sương khói của chữ nghĩa cùng
vần điệu, người hát, người nghe như bị
thôi miên, say đi để không ai nhận ra ý
thực của tác giả. Tuy vậy, tác giả vẫn
hy vọng, rồi sẽ có người thấu hiểu mình,
sẽ tìm ra sự thật trong bài hát! Kết quả
là trải thế kỷ XIX, qua thế kỷ XX, sang
thế kỷ XXI, bao tài tử văn nhân bị Dương
Khuê qua mặt, đã cảm thương cho một
Tuyết ảo cùng mối tình không bao giờ có!
Phát hiện này gợi lên suy ngẫm về cái sự
đọc: vì sao bao lớp tài tử văn nhân đã
nông nổi khóc than cho mối tình không
thật?!
Hôm nay,
khi hiểu cuộc đời Dương Khuê, đồng thời
phát hiện ra cái giả của mối tình trong
bài hát, màn khói mù được xua tan, để lộ
ra tâm sự thực ưu thời mẫn thế của tác
giả. Dương Khuê quả đã thành công khi
giấu tâm sự của mình. Nhưng do giấu quá
kỹ khiến ông bị hiểu lầm dẫn tới hàm
oan: chắc chắn ông không phải người ăn
chơi hưởng lạc nhất trong số văn nhân
tài tử cùng thời nhưng lại là người duy
nhất mang tiếng xấu! Phải chăng đã tới
lúc trả lại công bằng cho nhà thơ?
Tháng 6
năm 2010
HVT
Nguồn:trannhuong.com |